vai thieu say kho

http://vaithieukho.blogspot.com/2015/11/cay-vai-thieu-que-toi.html

Wikipedia

Search results

vải thiều sấy khô

vải thiều sấy khô cung cấp những thông tin mới nhất nóng bỏng nhất về đặc sản vải thiều bắc giang

vải thiều sấy khô

vải thiều sấy khô
vải thiều sấy khô
Powered By Blogger

DC : phượng sơn - lục ngạn - bắc giang :0972405082

Monday, May 23, 2016

Kỹ thuật trồng vải thiều Lục ngạn

Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 – 1.700 mm, độ ẩm không khí là 75 – 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá. Trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt. Vải kém chịu úng hơn các cây khác như ổi, táo ta, nhãn nhưng có khả năng chịu hạn tốt hơn. Tháng 11 – 12, cây vải cần thời tiết khô và rét để phân hoá mầm hoa.

vai thieu say kho
kỹ thuật chắm sóc vải thiều.
Nhiệt độ là nhân tố chủ yếu tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải. Cây vải sinh trưởng tốt ở những vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21 – 250C. Giống chín muộn ở 00C và giống chín sớm ở 40C thì ngừng sinh trưởng dinh dưỡng. Khi nhiệt độ từ 8 – 100C thì khôi phục sinh trưởng, 10 – 120C sinh trưởng chậm, 210C trở lên sinh trưởng tốt, 23 – 260C sinh trưởng mạnh nhất.
Thể nguyên thuỷ của hoa vải là mầm hỗn hợp, có hoa, có lá. Nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sự phát triển của lá. Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hoá cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục thể nguyên thuỷ của lá, thiên hướng về sinh thực.
Quá trình phân hoá mầm hoa vải liên quan chặt chẽ tới nhiệt độ, nhiệt độ từ 0 – 100C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hoá mầm hoa. Ở 11 – 140C cành hoa và lá đều có thể phát triển thành các chùm hoa có giá trị kinh tế, ở 18 – 190C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhỏ, nhiều lá nhưng không có giá trị về kinh tế.
Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải. Quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 – 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm có mối tương quan nghịch, R = – 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao.
Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả. Nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược lại, nhiệt độ thấp thì sinh trưởng của quả càng chậm. Nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính không điều khiển được, nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng.
Những tháng mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng mạnh yêu cầu lượng nước lớn. Những tháng mùa đông, mưa nhiều, vải dễ phát lộc đông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa. trong giai đoạn phân hoá mầm hoa, đủ nước thì tổng số hoa/chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng. Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa.
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 – 1.700 mm, độ ẩm không khí là 75 – 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá. Trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt. Vải kém chịu úng hơn các cây khác như ổi, táo ta, nhãn nhưng có khả năng chịu hạn tốt hơn. Tháng 11 – 12, cây vải cần thời tiết khô và rét để phân hoá mầm hoa
Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành, phân hoá mầm hoa, hoa nở và quả phát triển. Tổng số giờ chiếu sáng/năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp đối với cây vải. Ánh sáng đầy đủ giúp cho quá trình quang hợp và đồng hoá các chất xảy ra được thuận lợi tăng tích luỹ chất dinh dưỡng, khả năng sinh trưởng và phân hoá mầm hoa cũng như ra hoa đậu quả tốt, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái bình quân trên chùm tăng lên tương ứng.
Cây vải thích nghi trên nhiều loại đất. Các loại đất như đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất phù sa, đất thịt… cây vải đều có thể sinh trưởng và kết quả tốt. Rễ vải cộng sinh với nấm rễ, ưa đất có độ chua nhẹ.
II. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC CHO CÂY VẢI THIỀU THANH HÀ
1. Chuẩn bị đất và quản lý đất trồng.
Đất được lên luống để dễ thoát nước chống ngập úng. Khi cần thiết phải xử lý các nguy cơ tiềm ẩn từ đất (dư lượng kim loại nặng, nitrate, xói mòn, ngập úng… ảnh hưởng đến cây trồng và sức khỏe người tiêu dùng), tổ chức và cá nhân SX phải được sự tư vấn của nhà chuyên môn và phải ghi chép, lưu trong hồ sơ các biện pháp xử lý.
Trong vùng sản xuất vải thiều Thanh Hà hạn chế chăn thả vật nuôi gây ô nhiễm nguồn đất, nước. Nếu bắt buộc phải chăn nuôi thì phải có chuồng trại và có biện pháp xử lý chất thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm sau thu hoạch.
Tuỳ thuộc vào giống, độ màu mỡ của đất đai, điều kiện khí hậu cũng như khả năng thâm canh, mức độ đầu tư mà xác định mật độ trồng và khoảng cách trồng vải thiều Thanh Hà hợp lý. Khoảng cách trồng vải thích hợp là 7m x 7m hoặc 8m x 8m (mật độ 205 cây và 156 cây/ha). Trong điều kiện thâm canh cao, có thể trồng với khoảng cách 3m x 4m hay 4m x 6m (mật độ 832 cây và 416 cây/ha) hoặc trồng với mật độ trên nhưng đến khi giao tán cách 1 cây chặt bỏ 1 cây còn lại khoảng cách 4m x 6m hay 6m x 8m (mật độ 416 cây và 208 cây/ha) để khai thác tiềm năng cho sản lượng cao trong những năm đầu của chu kỳ kinh doanh do mật độ cao mang lại.
a. Giống vải thiều Thanh Hà:
- Nguồn gốc: Xã Thanh Sơn – Huyện Thanh Hà – Tỉnh Hải Dương. Hiện ở đây vẫn còn cây vải tổ trên 180 năm, hàng năm cho năng suất ổn định 300 – 400kg, phẩm chất quả tốt.
- Đặc điểm giống: Cây sinh trưởng tốt, tán cây hình bán cầu cân đối, lá có mầu xanh đậm. Chùm hoa nhỏ, hình cầu, cuống hoa có mầu vàng xanh. Quả hình cầu, khi chín có mầu đỏ tươi, gai thưa, ngắn. Trọng lượng quả trung bình 20,7g (45 – 55 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được trung bình 75,0%, độ Brix 18 – 21%, thịt quả chắc, vị ngọt đậm, thơm. Năng suất trung bình cây 8 – 10 tuổi 55kg/cây (8 – 10 tấn/ha). Đây là giống chín chính vụ, thời gian cho thu hoạch 5/6 – 25/6.
- Giống vải thiều Thanh Hà phải có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở nhân giống và sản xuất giống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép.
- Giống vải thiều Thanh Hà tự sản xuất phải có hồ sơ ghi lại đầy đủ các biện pháp xử lý cây giống, hóa chất sử dụng, thời gian, tên người xử lý và mục đích xử lý.
- Trong trường hợp giống vải thiều Thanh Hà không tự sản xuất phải có hồ sơ ghi rõ tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân và thời gian cung cấp, số lượng, chủng loại, phương pháp xử lý giống.
b. Tiêu chuẩn cây giống:
Cây giống trồng theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống nhân bằng phương pháp ghép được trồng trong túi bầu polietylen có kích thước tối thiểu: đường kính x chiều cao là 10 x 22cm. Cây giống phải có sức tiếp hợp tốt, cành ghép và gốc ghép phát triển đều nhau, phần vết ghép đã được tháo bỏ hoàn toàn dây ghép, có bộ rễ phát triển tốt, sinh trưởng khoẻ, không mang theo những loại sâu bệnh nguy hiểm, có đường kính gốc ghép cách mặt đất 2 cm là 0,8 – 1 cm, đường kính cành ghép từ 0,5 – 0,7cm, chiều dài cành ghép từ 30 – 40 cm và có từ 2 – 3 cành cấp 1 trở lên.
Cây vải thiều Thanh Hà có thể trồng được quanh năm, nhưng có 2 thời điểm trồng thích hợp nhất là vụ xuân tháng 2 – 4 và vụ thu tháng 8 – 10 dương lịch.
5. Kỹ thuật trồng:
a. Đào hố và bón phân lót
- Đào hố trồng vải phải dựa trên nguyên tắc: đất xấu đào to, đất tốt đào nhỏ. Thông thường kích thước hố: dài x rộng x sâu là: 0,8cm x 0,80m x 0,6cm, vùng đồi đất xấu cần đào hố to hơn, kích thước tương ứng là: 1m x 1m x 0,8m.
- Bón lót: cho 1 hố: 30-50 kg phân chuồng; 0,7-1,0 kg supe lân; 0,5 kg vôi bột.
- Khi đào: để lớp đất mặt một bên, lớp đất dưới một bên. Lớp đất mặt trộn với toàn bộ lượng phân bón lót và lấp lên đến miệng hố, lớp đất dưới đáy xếp thành vồng xung quanh hố.
Công việc chuẩn bị hố trồng, bón lót được tiến hành trước khi trồng 1 tháng.
b. Cách trồng
Khơi một hố nhỏ chính giữa hố đào, xé bỏ túi bầu và nhẹ nhàng đặt cây xuống hố, đặt bầu cây giống vào sao cho cổ rễ bằng hoặc thấp hơn mặt đất 2 – 3 cm, lấp đất và dùng tay nén chặt xung quanh gốc. Cắm cọc và dùng dây mềm buộc cố định cây để tránh gió lay đứt rễ.
Cần tủ gốc giữ ẩm cho cây sau khi trồng bằng rơm rạ hoặc cỏ khô rộng 0,8 – 1,0m; dày 7 – 15cm, cách gốc 5 – 10 cm.
Vào mùa nắng nên dùng rơm rạ, cỏ khô, thân cây đậu đỗ… để tủ gốc giữ ẩm cho cây. Ngoài việc giữ ẩm cho cây biện pháp này còn giúp hạn chế sự phát triển của cỏ dại.
7.1. Giai đoạn kiến thiết cơ bản 
Thời điểm bón: Hàng năm cần bón thúc cho vải 3 – 4 đợt. Đợt 1 vào tháng 2 để thúc đẩy ra cành mùa xuân; Đợt 2 vào tháng 5 để thúc đẩy ra cành mùa hè. Đợt 3 vào tháng 8 để thúc đẩy ra cành mùa thu. Đợt 4 vào vụ đông (tháng 11) bón supelân và kaliclorua tăng cường khả năng chống rét cho cây. Trong thời kỳ này cứ cách 1 năm lại bón cơ bản cho cây thêm phân hữu cơ và vôi bột vào tháng 7 và tháng 8.
Liều lượng bón: Lượng bón cho cây vải năm thứ nhất là:
+ Đạm U rê: 0,1 – 0,15 kg/ cây + Lân Supe: 0,3 – 0,5 kg/cây
+ Kalichlorua: 0,1 – 0,15 kg/cây. Chia đều cho các lần bón.
- Từ những năm sau lượng bón tăng 40 – 60% so với năm trước tuỳ thuộc vào tình hình sinh trưởng của cây.
- Lượng bón cho năm bón cơ bản (cách 1 năm bón 1 năm) vào tháng 7 – 8 là:
+ Phân chuồng: 30 – 50 kg/ cây + Vôi bột: 0,3 – 0,5 kg/cây
Phương pháp bón phân:
+ Hoà phân vô cơ với nước phân chuồng ủ kỹ để tưới cho cây cách gốc 15 – 20 cm.
+ Cuốc 3 – 4 hố sâu 5 – 7 cm xung quanh tán, bón phân rồi lấp đất.
+ Rắc xung quanh hình chiếu tán cách gốc 15 – 20cm khi trời có mưa rào hoặc tưới nước.
7.2. Giai đoạn kinh doanh: Từ năm thứ 3 trở đi
Tưới nước, làm cỏ.
- Ở thời kỳ cây đang cho quả cần cung cấp đủ nước tưới vào các thời kỳ chính là thời kỳ cây chuẩn bị ra hoa, thời kỳ quả phát triển.
- Thường xuyên làm sạch cỏ xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây để hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng.
Bón phân
Liều lượng và tỷ lệ phân bón:
Tuỳ theo hiện trạng sinh trưởng của cây, sản lượng quả thu hoạch của năm trước để xác định liều lượng bón cho cây cho thích hợp. Với những cây nhiều năm tuổi (cho năng suất bình quân từ 100 kg quả tươi/năm/cây trở lên) thì có thể bón với lượng như sau: 3 kg Đạm Ure + 2 ml Neb-26 (= 2 lọ 100 ml) + 15 kg NPK (16-16-8+13S) Phú Mỹ + 10 kg Kaliclorua/sào = 360 m2
Lượng phân bón cho ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây
Tuổi cây Lượng phân bón (kg/sào/năm)
Tuổi cây Lượng phân bón (kg/sào/năm)
Phân chuồng Đạm ure Neb-26 (ml) NPK (16-16-8+13S) Kaliclorua
4 – 5 30 – 50 0,5 33 2,5 1,7
6 – 7 - 0,9 60 4,5 3,0
8 – 9 - 1,2 80 6,0 4,0
10 – 11 50 – 70 1,5 100 7,5 5,0
12 – 13 - 1,8 120 9,0 6,0
14 – 15 - 2,4 160 12,0 8,0
>15 - 3,0 200 15,0 10,0
Thời kỳ và liều lượng bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón.
- Lần 1: Bón giai đoạn đậu quả (phân quả xong, quả bằng hạt mây): 20% đạm urê + 35% Neb-26 + 100% NPK(16-16-8+13S) + 40% kaliclorua.
- Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả (quả tạo cùi được 1/3 hạt): 13% đạm urê + 35% Neb-26 + 60% kaliclorua.
- Lần 3: Bón sau khi thu hoạch quả xong 15 ngày, thúc ra lộc thu (thu hoạch xong, tỉa cành, tạo tán xong): 67% đạm urê + 0,6 ml Neb-26.
(Đối với cây vải trên 15 năm tuổi bón: 3 kg Urê + 200 ml Neb-26 + 15 kg NPK (16-16-8+13S) + 10 kg kaliclorua/sào. Bón làm 3 đợt: Đợt 1 quả bằng hạt mây bón 0,6 kgUre+0,7ml Neb-26+15 kgNPK+4 kg kali/sào; Đợt 2 quả tạo cùi bón 0,4kg Ure+0,7ml Neb-26+6kg kali/sào; Đợt 3 sau thu hoạch 15 ngày bón 2 kg Ure+0,7 kg Neb-26/sào.
Cáchbón:
- Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 20 – 30 cm, sâu 30 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại.
- Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới.
Sử dụng hoá chất, chất điều tiết sinh trưởng
- Tăng khả năng đậu quả:
+ Trước khi ra hoa: dùng Atonic hoặc kích thích tố thiên nông (theo chỉ dẫn trên bao bì) phun cho giò hoa 2 lần, lần 1 khi giò hoa mới nhú. Lần 2 trước khi hoa nở 1 tuần, có thể kết hợp với phun thuốc sâu hoặc thuốc bệnh.
+ Sau khi đậu quả: quả non có kích thước bằng hạt đậu xanh (đường kính 3- 4 mm), phun Atonic hoặc kích phát tố thiên nông một lần với nồng độ bằng 1/2 so với chỉ dẫn. Có thể phun phân Đạm ure nồng độ 0,1 – 0,2% vào thời kỳ quả non để hạn chế rụng quả.
- Khống chế lộc đông: cuối tháng 12 đầu tháng 1, phun 1 lần dung dịch Ethrel 1.000 – 1500ppm để loại bỏ bớt lộc đông này. Với những cây đã có lộc đông, phun ướt hết phần non ở ngọn cành.
Sử dụng các biện pháp cơ giới (áp dụng cho những năm thời tiết bất thuận)
- Khoanh vỏ: vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lộc thu đã thành thục, chọn những cây sinh trưởng khoẻ, lá xanh đen (dễ hình thành lộc đông) tiến hành khoanh vỏ. Khoanh toàn bộ số cành có đường kính từ 5 cm trở lên. Dùng dao sắc khoanh bỏ hết lớp vỏ đến phần gỗ với chiều rộng vết khoanh 0,4 – 0,5 cm, theo hình xoắn ốc 1,5 – 2 vòng, xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho vết khoanh.
- Cuốc sâu làm đứt rễ: cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lộc thu đã thành thục, chọn những cây có tình trạng sinh trưởng khoẻ (dễ hình thành lộc đông) tiến hành cuốc đứt rễ bằng cách đào rãnh sâu 30 – 40 cm phía ngoài mép tán, cắt đứt một số rễ và để phơi nắng tự nhiên 30 – 40 ngày, khi lá chuyển màu thì lấp đất màu và phân hữu cơ hoai mục, tưới nước cho cây sinh trưởng trở lại.
- Những năm có mưa vào tháng 11,12, đất ẩm thì sau mưa xới nông 5 – 7 cm trên bề mặt tán làm đất thông thoáng, thoát ẩm nhanh hạn chế lộc đông, thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa.
9. Tỉa cành và tạo tán: Mục đích của tỉa cành và tạo tán là tạo cho cây có bộ khung cơ bản, thông thoáng giúp cây sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao và ổn định, đồng thời kéo dài giai đoạn kinh doanh. Tỉa cành để tạo bộ tán đẹp cho cây, hạn chế sâu bệnh và cành không hiệu quả.
- Kỹ thuật cắt tỉa:
* Cắt tỉa tạo hình cho vườn cây kiến thiết cơ bản:
Tạo cành cấp 1:
Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng.
Tạo cành cấp 2:
Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng.
Tạo cành cấp 3:
Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp được tốt.
* Cắt tỉa hàng năm cho vườn vải thiều kinh doanh:
- Cắt tỉa vụ xuân: được tiến hành vào giữa tháng 2 đến giữa tháng 3; cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, thưa, mọc sâu trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh. Với cây khoẻ mạnh, chăm sóc tốt thì có thể tỉa bỏ 20 – 30% số chùm hoa, những cây yếu cần tỉa bỏ nhiều hơn.
- Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành giữa tháng 5 đến đầu tháng 6; cắt bỏ những cành hè mọc nhỏ, yếu, mọc quá xít nhau, chỉ để lại 1 – 2 cành khoẻ trên cành mẹ. Đồng thời với việc tỉa cành là cắt bỏ những chùm chùm quả nhỏ, sâu bệnh.
-Cắt tỉa vụ thu: được tiến hành sau khi thu quả vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7; tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh và các cành hè mọc quá dài. Khi lộc thu hình thành mọc dài khoảng 10 cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và chọn để lại 1 – 2 cành thu trên mỗi cành mẹ.
III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH, CỎ DẠI CHO CÂY VẢI THIỀU THANH HÀ
1. Bọ xít nâu (Tessaratoma papillosa Drury):
- Đặc điểm gây hại: trưởng thành qua đông vào tháng 12, 1 sau đó đẻ trứng vào tháng 2, 3, 4, trứng nở, bọ xít non gây hại các đợt lộc, hoa và quả non.
- Phòng trừ:
+ Vụ đông, rung cây vào buổi sáng sớm khi lá còn ướt sương cho bọ xít rơi xuống, tập trung lại và đốt.
+ Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ
+ Phun thuốc diệt bọ xít non bằng Supergun 600 EC
2. Sâu đục đầu quả (Conopomopha sinensis Bradley):
- Đặc điểm gây hại: Trưởng thành đẻ trứng trên lộc non và cuống quả khi quả đang phát triển, sâu non nở ra đục qua lớp biểu bì ăn sâu vào hạt tập trung gần cuống quả làm rụng quả, tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập gây thối quả. Sâu đục đầu quả gây hại từ tháng 3 – 6.
- Phòng trừ: + Quét dọn cành lá khô, quả rụng làm giảm nguồn sâu
+ Khống chế lộc đông.
+ Phun thuốc phòng trừ vào các đợt cuối các tháng 3, 4, 5 và trước thu hoạch 15 – 20 ngày bằng Kampon 600 WP để phòng trừ.
3. Rệp hại hoa, quả non (Ceroplastes ceriferus Anderson):
- Đặc điểm gây hại: Rệp xuất hiện từ khi giò hoa vươn dài đến khi quả non ổn định, mật độ rệp có thể lên rất cao (hàng 100 con/1 chùm hoa) gây cháy đọt, thui hoa, quả.
- Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc ít ảnh hưởng đến hoa, quả non như Motsuper 36 WG phun kép 2 lần, lần 1: khi rệp xuất hiện, lần 2: sau 5 – 7 ngày vào lúc chiều mát.
4. Sâu đục thân cành (Apriona germani Hope):
- Đặc điểm gây hại: Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên gốc cây, thân và cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.
- Phòng trừ:
+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non
+ Sau thu hoạch quét vôi vào gốc cây để diệt trứng
+ Phun các loại thuốc xông hơi như Supergun 600 EC sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.
5.Ngài chích hút (Lagoptera dotata Fabricius):
- Đặc điểm gây hại: Chích hút dịch quả, gây vết thương cơ giới cho nấm, vi khuẩn xâm nhập làm thối quả.
- Phòng trừ: + Xông khói xua đuổi
+ Bẫy ngài bằng lồng lưới
+ Bẫy bằng bả hoá học: Naled 5% + Metyl Eugenol 95% + dịch nước cam, dứa, chuối, mía, mít.
(100m2/1 bả).
6. Nhện lông nhung hại vải (Eriophyes litchii Keifer):
Đặc điểm gây hại: Nhện lông nhung phát sinh quanh năm, gây hại chủ yếu trên các đợt lộc, nặng nhất vào vụ xuân. Sâu non nở ra chích hút biểu bì mô mặt dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá làm cho lá dị dạng có mầu nâu đỏ như nhung, mặt trên lá xoăn, phồng rộp phát triển không bình thường, làm cho lá quang hợp kém, dễ rụng.
- Phòng trừ: + Thu gom các lá rụng và cắt bỏ các cành bị hại nặng đem đốt. Sau thu quả và vụ đông cắt tỉa cho cây thông thoáng, làm vệ sinh vườn để giảm bớt điều kiện hoạt động của nhện.
+ Sử dụng thuốc: Oman 2 EC có tác dụng diệt nhện trưởng thành tốt. Phun cho mỗi đợt lộc 2 lần: lần 1 nhú lộc, lần 2 lộc ra rộ.
7.Câu cấu hại vải (Xanthochellus sp):
- Đặc điểm gây hại: Sâu non và trưởng thành cắn cành non, ăn khuyết lá khi cây xuất hiện những đợt lộc làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây non.
- Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc Sherpa 0,1%; Sumicidin 0,1%, supraside 0,15% phun vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm.
B. Phòng trừ bệnh hại vải thiều:
1.Bệnh mốc sương (Pseudoreronospora sp):
- Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại trên chùm hoa, lá đặc biệt là quả sắp chín và chín làm chùm hoa biến mầu đen, quả thối và rụng..
- Phòng trừ: + Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh. Phun phòng bằng Boocdo (1%), Oxiclorua Đồng (0,3%). Khi thấy xuất hiện bệnh trên hoa quả, dùng Upple 400 SC hoặc AthuocTOP 480 SC để phòng trừ.
2.Bệnh sém mép lá (Gloeosporium sp):
- Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra làm cho các mô lá bị tổn thương tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá. Bệnh phát sinh vào tháng mùa mưa 7, 8, 9, gây hại nặng vào tháng 2, 3, 4.
- Phòng trừ: + Cắt bỏ những cành lá bị bệnh đem đốt tránh lây lan nguồn bệnh.
+ Phun thuốc đặc trị Ychatot 900 SP hoặc Marthian 90 SP
3.Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides Penz.)
- Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá và các đốm trên mặt lá, ranh giới giữa mô khoẻ và mô bệnh phân biệt rõ rệt.
- Phòng trừ: + Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, gom lại và tiêu hủy.
+ Phun phòng thuốc vào vụ thu đông bằng Haohao 600 WDG
C. Phòng trừ cỏ dại hại vải thiều.
Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với cây vải thiều và là nơi trú ẩn của sâu bệnh. Trước mỗi đợt bón phân cần làm sạch cỏ xung quanh gốc. Phải dọn dẹp, làm sạch cỏ trong vườn, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ cỏ nhằm hạn chế khả năng ô nhiễm đất do thuốc. Nếu dùng chỉ được phép dùng các loại thuốc nằm trong danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp & PTNT, nếu sử dụng thuốc diệt cỏ để xử lý cỏ dại trong vườn thì phải ghi chép và lưu giữ trong hồ sơ của hộ gia đình, HTX… ngày phun, loại thuốc Conforn 480 SL và liều lượng đã sử dụng.
IV. THU HOẠCH VÀ XỬ LÝ SAU THU HOẠCH VẢI THIỀU.
- Chấm dứt phun xịt thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng trước khi thu hoạch vải thiều 10 – 15 ngày
- Nên thu hoạch khi quả vải thiều đạt độ chín sinh lý để quả vải thiều có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Thời điểm thu hoạch vải thiều tốt nhất là vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào trái làm tăng nhiệt độ trong quả, gây mất nước ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian bảo quản.
- Dụng cụ thu hoạch quả vải thiều như kéo cắt cành phải sắc, bén. Chùm quả sau khi cắt được đựng trong giỏ, sọt, để trong mát, phân loại sơ bộ và vận chuyển ngay về nhà đóng gói càng sớm càng tốt. Các dụng cụ như dao, kéo, giỏ, sọt… được dùng trong thu hoạch vải thiều nhiều lần phải được chùi rửa, vệ sinh, sát trùng, bảo quản cẩn thận.
- Sản phẩm vải thiều sau thu hoạch không được để tiếp xúc trực tiếp với đất, hạn chế để qua đêm.
- Không chất quả vải thiều quá đầy giỏ, sọt khi vận chuyển, giỏ, sọt phải được bao lót kỹ, che phủ bằng giấy hoặc lá để tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào quả và tổn thương quả do va chạm trong khi vận chuyển.

Friday, May 13, 2016

Ổi Ổi



http://vaithieukho.blogspot.com/Vải thiều sấy khô, vải thiều sấy khô Lục Ngạn , Vải thiều bắc giang

Saturday, May 7, 2016

Mùa Vải Trên Quê Hương Tôi

Năm nay tôi quyết tâm dành trọn bốn ngày để về Bắc Giang đi thu hoạch vải với gia đình. Bằng cảm nhận của riêng mình tôi ghi lại vài tấm hình xin được chia sẻ cùng các bạn!
Tôi sinh ra và lớn lên tại môt nàng quê của tỉnh Bắc Giang, quê tôi là miền đồi núi trung du thế nên tuổi thơ gắn liền với núi, với đồi  và cây trái. Từ khi đi học xa nhà rồi làm việc tại thành phố, tôi ít có dịp về thăm quê vào những mùa hè, đặc biệt là mùa vải chín đã từng in sâu vào trong tâm hồn.
Vải thiều được ví như một cô gái đẹp nhưng chóng tàn bởi mùa vải chín rộ trong thời gian rất ngắn, chỉ khoảng nửa tháng, từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 âm lịch. Tuy vậy, mỗi mùa vải lại là một trải nghiệm thú vị đối với bọn trẻ chúng tôi

























Vải thiều Bắc Giang không to như các loại vải khác, quả chỉ vừa phải, tròn, dày dặn, mịn và có gai lì. Vỏ vải thiều mỏng và không đỏ ối như vải các nơi khác. Bóc quả vải bỏ vào miệng, cắn một cái là răng ngập vào lớp cùi dày trắng nõn. Nhiều khi chẳng thấy hạt vải đâu, phải nhằn tìm để khỏi nuốt phải hạt. Đặc biệt, mùi thơm của vải ăn xong vẫn còn vương vấn mãi.

                              >> Màu Đỏ Tuyêt Đẹp Trên Quê Hương Vải Bắc Giang


Màu Đỏ Tuyệt Đẹp Chợ Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang 2015

Đường quốc lộ 31 qua huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang những ngày này luôn trong tình trạng đông đúc. Tại nhiều ngã ba phố Kim, thị trấn Chũ…, đâu đâu cũng ngập tràn hình ảnh những chiếc xe chở hàng tạ vải đi bán.
http://vaithieukho.blogspot.com/
ổiổi

Trong khoảng 5 năm trở lại đây, huyện Lục Ngạn được coi là vựa vải lớn nhất cả nước. Ngay từ cuối tháng 5 năm nay, nhiều vùng trong huyện đã thu hoạch vải sớm. Không khí tấp nập mua bán diễn ra khắp các ngả đường, đặc biệt là trên quốc lộ 31, tại các ngã ba, ngã tư. 
http://vaithieukho.blogspot.com/
ổiổi
Những chuyến xe vải của người dân xã Giáp Sơn (Lục Ngạn, Bắc Giang) hái trong sáng sớm được đưa ra quốc lộ bán cho các thương lái. Giờ cao điểm, vải từ vườn đưa ra các điểm thu mua ngoài đường QL31 khoảng từ 5h-10h sáng. 
http://vaithieukho.blogspot.com/
Qua khảo sát, giá thu mua cụ thể như sau: Vải lai Thanh Hà dao động từ 17.000 - 30.000 đồng/kg; vải thiều chính vụ dao động từ 11.000 – 23.000 đồng/kg, tùy chất lượng quả. Năm nay, vải thiều Việt Nam đang được ưa chuộng tại nhiều thị trường nước ngoài kể cả những thị trường khó tính như Úc, Mỹ, Canada. Tại Pháp, một kg vải thiều Việt Nam được bán với giá 8.9 Euro, tương đương 250.000 đồng/kg. 
http://vaithieukho.blogspot.com/
ổiổi
Cả khu chợ Phì Điền ngập tràn sắc đỏ vải. Những chuyến xe máy chở 1-2 tạ vải. 
http://vaithieukho.blogspot.com/
ổiổi
Không khí buôn bán sôi động trên khắp thị trấn Chũ (Lục Ngạn, Bắc Giang) khiến tình trạng đi lại qua khu vực này khá lộn xộn.
http://vaithieukho.blogspot.com/
ổiổi
Vải được các tiểu thương phát giá trước, trong trường hợp người bán đồng ý sẽ chuyển vào khu vực cân phía trong.
ổiổi
Những sọt vải rong ruổi dọc con đường để tìm giá hợp ý nhất. 
ổiổi
Theo anh Nguyễn Văn Diễn (Thị trấn Chũ, Lục Ngạn), năm nay trong huyện nhiều nơi được mùa, nhiều nơi sản lượng lại kém hơn năm trước. Tuy nhiên, giá vải đang ở mức cao hơn năm ngoái.
ổiổi
Thời điểm gần trưa, trên đường QL31 đoạn qua Phố Kim (Phượng Sơn, Lục Ngạn), những chuyến xe vải đầy ắp vẫn đang nhích từng cm qua điểm ùn tắc. 
ổiổi
Đâu đâu cũng nhìn thấy sắc màu vải chín. 
ổiổi
Giờ cao điểm, ngay cả xe máy cũng phải đứng chôn chân, những dịp khác trong năm không phải vụ vải, quốc lộ 31 luôn vắng vẻ. 
ổiổi
Tại các điểm thu mua, xe vải đứng xếp hàng dài chờ đến lượt cân. 
ổiổi
Phía trong điểm thu mua, vải được tiểu thương xếp gọn gàng để chuẩn bị phân loại. 
ổiổi
Việc mua bán chỉ diễn ra sôi động vào giờ sáng, đến chiều, các tiểu thương thực hiện công việc đóng vải vào thùng và di chuyển đến các thị trường khác nhau. 

                                                                                   Nguồn internet.




















Thursday, April 21, 2016

Những thực phẩm đại kỵ không nên ăn vào buổi tối

Thực phẩm tốt cho sức khỏe và có thể ăn bất cứ lúc nào cũng được thì bạn đã nhầm. Có những thực phẩm nếu ăn vào buổi tối sẽ có hại cho bạn nhiều hơn.

Thịt đỏ.

Các loại thịt đỏ đều có đặc điểm chung là khó tiêu hóa. Đó là lý do tại sao loại thực phẩm này được coi là thực phẩm không nên trước khi ngủ hoặc vào ban đêm. Bạn sẽ thấy khó ngủ hơn nếu bạn ăn thịt đỏ trực ngay trước khi đi ngủ.
Cần tây
Cần tây là một số các loại rau không được khuyến khích nên ăn trước giờ đi ngủ vì cần tây có tác dụng như là một thuốc lợi tiểu. Nếu ăn nhiều cần tây vào buổi tối, bạn sẽ có nguy cơ phải dậy để đi vệ sinh nhiều hơn vào ban đêm, khi đang ngủ. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của bạn và khiến bạn ngủ không ngon giấc, mệt mỏi vào sáng hôm sau.
Bánh kẹo

Các loại bánh kẹo đều phải được hạn chế tiêu thụ vào buổi đêm, trước khi đi ngủ vì chúng có hàm lượng đường và chất béo rất cao. Nếu bạn không muốn bị tăng cân hoặc đầy bụng, khó ngủ, tốt nhất hãy tránh ăn tất cả các loại thực phẩm ăn vặt có nhiều đường và chất béo này.
Sô cô la
Dù rằng sô cô la đen là thức ăn nhẹ lành mạnh có chứa magiê và các chất chống oxy hóa, sô cô la cũng có chứa caffein, chính nó làm cho bạn khó ngủ.
Bơ lạc (đậu phộng)


Các loại hạt là nguồn chất béo an toàn và còn có thể giúp bạn giảm cân. Nhưng không may là chất béo này khó tiêu hóa và chúng sẽ ở lại trong dạ dày của bạn suốt đêm nếu bạn ăn quá nhiều. Hãy ăn những chất béo có trong thức ăn nhiều đạm, như cá hồi, thịt, trứng… nhưng nên ăn với số lượng ít những thức ăn có quá nhiều chất béo (như các loại hạt, phô mai, nước sốt kem…).
Đồ uống có cồn/ ga/cà phê
Nhiều người cho rằng rượu, bia sẽ làm dễ ngủ nhưng một nghiên cứu được công bố trên tạp chí International Journal of Psychophysiology chứng minh rằng, giấc ngủ R.E.M. (dạng chuyển động mắt nhanh khi dùng rượu) sẽ bị gián đoạn và bạn sẽ không còn sức sống vào buổi sáng.
Trong khi đó khá nhiều người sử dụng nước ngọt có ga trước và sau bữa ăn tối. Trong nước ngọt có ga chứa nhiều đường, caffein, chất béo bão hòa... những chất này không hề có giá trị dinh dưỡng cho cơ thể, chúng sẽ khiến cho bạn khó ngủ hơn.
Pho mát

Pho mát là một loại thực phẩm dễ ăn nhưng lại chứa nhiều chất béo nên có thể khiến bạn tăng cân rất nhanh nếu bạn ăn chúng trước khi ngủ. Với hàm lượng chất béo bão hòa và cholesterol cao, ăn nhiều pho mát còn có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim.
Các loại quả có múi
Trái cây, đặc biệt trái cây có múi được coi là loại thực phẩm không nên ăn vào buổi tối, ăn nhiều trước khi ngủ. Ăn nhiều loại trái cây này có thể dẫn đến đầy khí trong bụng, gây chướng bụng, khó khăn trong việc tiêu hóa vì lượng men đường gây ra. Nếu bạn ăn một số trái cây trước khi đi ngủ, cố gắng ăn một khẩu phần rất nhỏ.